• Trang chủ
  • USB 3G Data Card
  • Gói cước 3G
  • ADSL Viettel
  • Cáp quang
  • 3G Viettel
  • Dịch vụ khác
  • An Khanh Telecom

    Trang chủ » Tin tức công nghệ » Hiện thực mạng 3G

    Hiện thực mạng 3G

    Thực chất công nghệ 3G mang đến cho người dùng những lợi ích gì? Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động (gọi tắt là Telco) dùng những công nghệ nào, tốc độ bao nhiêu?

    Bốn nhà khai thác dịch vụ ĐTDĐ (Vinaphone, MobiFone, Viettel và liên danh EVN Telecom –Hanoi Telecom) đã chính thức nhận giấy phép 3G (băng tần 1900MHz-2200MHz theo chuẩn IMT-2000). Sau hơn một tháng kể từ ngày cấp phép (13/8), vẫn còn nhiều câu hỏi được đặt ra. Thực chất công nghệ này mang đến cho người dùng những lợi ích gì? Các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động (gọi tắt là Telco) dùng những công nghệ nào, tốc độ bao nhiêu?

    Lợi ích 3G

    3G (third-generation) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả thoại và dữ liệu (tải file, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh…), mang lại cho người dùng các dịch vụ giá trị gia tăng cao cấp. Một vài ví dụ tiêu biểu như:

    Điện thoại hình: Với 3G, hai người đối thoại có thể thấy nhau qua màn hình điện thoại di động.

    Thông tin và tin tức: Bạn có thể truy cập bất kỳ trang web nào để xem tin tức, các sự kiện nóng sốt diễn ra trong ngày bằng điện thoại di động, máy tính xách tay hỗ trợ mạng 3G. Với Internet, bạn có thể xem bản tin dự báo thời tiết, tin tức hàng ngày, thị trường chứng khoán, chia sẻ thông tin với bạn bè người thân… mọi lúc mọi nơi.

    Thư điện tử: Rời khỏi văn phòng nhưng lại quên gửi một email quan trọng, bạn có thể nhanh chóng hoàn tất nhiệm vụ chỉ với điện thoại di động. Bạn cũng có thể dùng điện thoại thay cho modem để kết nối đến máy tính xách tay hay PDA để soạn thảo hay lấy tài liệu gửi kèm.

    1.jpg

    Hình 1: Sự tiến triển của công nghệ mạng thông tin di động tại các nước.

    Trò chơi: Game đã hiện diện trong điện thoại di động từ rất sớm với các thể loại từ đơn giản đến phức tạp. Là một công nghệ đã phát triển, các trò chơi ngày càng có tính tương tác hơn, hấp dẫn hơn và không thể thiếu cho nhu cầu giải trí. Mạng 3G cho phép tải game bất kỳ lúc nào, nơi đâu.

    Phim ảnh: Tốc độ và chất lượng của mạng 3G thực sự góp phần nâng cao chất lượng phim ảnh khi xem trên các thiết bị di động. Bạn có thể xem trailer game/phim, tải nhạc chuông, hình nền….

    Thể thao: Với âm thanh và video chất lượng cao của mạng 3G, bạn có thể xem các sự kiện nổi bật, các trận đấu yêu thích và dĩ nhiên có thể xem tỉ số mới nhất.

    Âm nhạc: Bạn có thể tải bài hát, các video nhạc, thậm chí biên tập nhạc chuông cho riêng mình.

    Trên đây là những lợi ích chung của công nghệ mạng 3G, nhưng ứng với từng hạ tầng mạng sẽ có những thế mạnh riêng. Thêm vào đó, ứng với từng công nghệ mạng (GSM, CDMA) và hạ tầng sẵn có, mỗi Telco sẽ có hướng chọn lựa công nghệ riêng (HSPA, HSPA+, CDMA20001xEV-DO, WCDMA…) cho việc nâng cấp lên 3G. Sau đây là các công nghệ được giới chuyên gia đánh giá cao cho hạ tầng mạng của các Telco hiện nay.

    HSPA cho mạng GSM

    Do 3GPP phát triển, HSPA (High-Speed Packet Access – Truy cập gói tốc độ cao) là công nghệ truyền dẫn không dây cho các thiết bị thông tin di động công nghệ GSM (Global System for Mobile communications – Hệ thống thông tin di động toàn cầu). HSPA hỗ trợ tốc độ tối đa 14,4Mbps (Release 5 –R5) cho đường xuống (HSDPA- High-Speed Downlink Packet Access) và 5,8Mbps (R6) cho đường lên (HSUPA – High-Speed Uplink Packet Access). Công nghệ này giúp tăng dung lượng mạng và giảm thời gian trễ đối với các dịch vụ tương tác. Tính trung bình, người sử dụng có thể tải dữ liệu với tốc độ nhanh gấp 20 lần so với kết nối GPRS đang được các Telco cung cấp. Trong tương lai gần, HSPA sẽ được nâng cấp lên R8 với tốc độ 42Mbps cho đường xuống (downlink) và 12Mbps cho đường lên (uplink).

    2-190.jpg

    Hình 2: Lộ trình của công nghệ HSPA và HSPA+

    HSDPA được xem là công nghệ mạng di động 3,5G với ưu thế về tốc độ downlink: tốc độ tải về từ 1,8Mbps đến 14,4Mbps. Mặc dù có thể truyền tải bất cứ dạng dữ liệu nào, song mục tiêu chủ yếu của HSDPA là dữ liệu dạng video và nhạc.

    HSDPA được phát triển dựa trên công nghệ WCDMA nhưng sử dụng các phương pháp chuyển đổi và mã hóa dữ liệu khác. Nó tạo ra một kênh truyền dữ liệu bên trong WCDMA được gọi là HS-DSCH (High Speed Downlink Shared Channel) hay còn gọi là kênh chia sẻ đường xuống tốc độ cao. Kênh truyền tải này hoạt động hoàn toàn khác biệt so với các kênh thông thường và cho phép thực hiện việc tải về với tốc độ vượt trội. Điều này có nghĩa là, dữ liệu sẽ được truyền trực tiếp từ nguồn phát đến điện thoại, và quá trình ngược lại (truyền dữ liệu từ điện thoại đến nguồn phát) thì hầu như không thể thực hiện được.

    HSUPA (tên do Nokia đặt) hay EUL – Enhanced Uplink (do 3GPP đưa ra) là công nghệ mạng di động ra đời sau HSDPA và được xem là công nghệ 3,75G hay còn gọi là 4G. Đây là công nghệ chiếm ưu thế ở tốc độ uplink: từ 1,4Mbps đến 5,76Mbps. Ngược lại với HSDPA, HSUPA sử dụng kênh truyền nâng cao tốc độ đường lên E-DCH (Enhanced Dedicated Channel) theo các kỹ thuật tương tự HSDPA. Mục tiêu chủ yếu của HSUPA là cải tiến tốc độ tải lên cho các thiết bị di động và giảm thời gian trễ trong ứng dụng game, email, chat… HSUPA là công nghệ phát triển sau HSDPA nhằm thỏa mãn nhu cầu tương tác thời gian thực với các ứng dụng đòi hỏi tốc độ và độ tin cậy cao.

    Với đặc điểm nổi bật này, HSPA đang trở thành một công nghệ được nhiều Telco quan tâm phát triển. Theo các công bố của bốn nhà khai thác, cả ba Telco Vinaphone, MobiFone, Viettel đều chọn công nghệ HSDPA nền tảng WCDMA để chuyển tiếp lên mạng 3G với mức tốc độ khởi điểm tối đa từ 7,2Mbps (MobiFone, Viettel) đến 14,4Mbps (Vinaphone).

    Để có thể sử dụng được các dịch vụ giá trị gia tăng của công nghệ HSPA đòi hỏi người dùng phải có các thiết bị đầu cuối (ĐTDĐ, MTXT, MTĐB, PDA, router…) hỗ trợ cùng công nghệ. Hiện nay, đã có nhiều thiết bị được tích hợp sẵn công nghệ HSPA, nếu không, bạn vẫn có thể trang bị modem USB hay card HSPA gắn ngoài.

    Các chuẩn di động 3G: IMT-2000 của ITU

    Giữa thập niên 1980, khái niệm IMT-2000 (International Mobile Telecommunications) được ITU (International Telecommunications Union – Liên minh Viễn thông Quốc tế) khai sinh hệ thống truyền thông di động 3G. Sau hơn 10 năm phát triển, vào năm 2000, ITU đã đưa ra một tiêu chuẩn duy nhất cho các mạng di động tương lai gọi là IMT-2000. Phổ tần từ 400MHz đến 3GHz phù hợp cho hệ thống viễn thông 3G.

    5.jpg

    IMT-2000 cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng và các ứng dụng trên một chuẩn duy nhất cho mạng thông tin di động. Dự kiến, nền tảng này cung cấp các dịch vụ từ cố định, di động, thoại, dữ liệu, Internet đến các dịch vụ đa phương tiện. Điều quan trọng hơn là nó cung cấp dịch vụ chuyển vùng toàn cầu, cho phép người dùng có thể di chuyển đến bất kỳ quốc gia nào cũng có thể sử dụng một số điện thoại duy nhất. IMT-2000 hỗ trợ tốc độ đường truyền cao hơn: tốc độ tối thiểu là 2Mbps cho người dùng văn phòng hoặc đi bộ; 348Kbps khi di chuyển trên xe. Trong khi đó, hệ thống viễn thông 2G chỉ có tốc độ từ 9,6Kbps tới 28,8Kbps.

    IMT-2000 có những đặc điểm chính:

    1. Tính linh hoạt

    Với số lượng lớn các vụ sáp nhập và hợp nhất trong ngành công nghiệp điện thoại di động và khả năng đưa dịch vụ ra thị trường ngoài nước, nhà khai thác không muốn phải hỗ trợ giao diện và công nghệ khác. Điều này chắc chắn sẽ cản trở sự phát triển của 3G trên toàn thế giới. IMT-2000 hỗ trợ vấn đề này, bằng cách cung cấp hệ thống có tính linh hoạt cao, có khả năng hỗ trợ hàng loạt các dịch vụ và ứng dụng cao cấp. IMT-2000 hợp nhất 5 kỹ thuật (IMT-DS, IMT-MC, TMT-TC, IMT-SC, IMT-FT) về giao tiếp sóng dựa trên ba công nghệ truy cập khác nhau (FDMA – Đa truy cập phân chia theo tần số, TDMA – Đa truy cập phân chia theo thời gian và CDMA – Đa truy cập phân chia theo mã).

    Dịch vụ gia tăng trên toàn thế giới và phát triển ứng dụng trên tiêu chuẩn duy nhất với 5 kỹ thuật và 3 công nghệ.

    2. Tính kinh tế

    Sự hợp nhất giữa các ngành công nghiệp 3G là bước quan trọng quyết định gia tăng số lượng người dùng và các nhà khai thác.

    3. Tính tương thích

    Các dịch vụ trên IMT-2000 có khả năng tương thích với các hệ thống hiện có. Chẳng hạn, mạng 2G chuẩn GSM sẽ tiếp tục tồn tại một thời gian nữa và khả năng tương thích với các hệ thống này phải được đảm bảo hiệu quả và liền mạch qua các bước chuyển.

    4. Thiết kế theo Mô-đun

    Chiến lược của IMT-2000 là phải có khả năng mở rộng dễ dàng để phát triển số lượng người dùng, vùng phủ sóng, dịch vụ mới với khoản đầu tư ban đầu thấp nhất.

    Công nghệ HSPA+

    HSPA+ (HSPA plus) hay HSPA Evolution (HSPA cải tiến) là thế hệ tiếp theo của HSPA do 3GPP đưa ra sau R6 (công nghệ HSUPA). HSPA+ được xem là công nghệ 3,5G. Điều này có nghĩa là HSPA+ sẽ có khả năng tương thích ngược với HSPA. Do đó, các Telco có sẵn hạ tầng HSPA thì việc nâng cấp lên HSPA+ sẽ rất dễ dàng, tiết kiệm chi phí (do tận dụng được các trạm phát đang có) mà tốc độ đạt mức khá cao.

    4.jpg

    Hình 3: HSPA+ có khả năng phục vụ tất cả các dịch vụ IP *: Multicasting là cách truyền dữ liệu từ một-nhiều. Đây là cách hữu hiệu để truyền văn bản, âm thanh, video đến một nhóm người trên mạng.

    Hiện HSPA+ R7 đã được thương mại hóa hồi đầu năm nay, còn HSPA+ R8 sẽ chính thức ra mắt vào năm sau. Điểm nổi bật của công nghệ này so với HSPA là sử dụng công nghệ MIMO 2×2 (Multiple Input Multiple Output) với 2 anten phát và 2 anten thu, sử dụng phương thức điều chế 16QAM (HSPA sử dụng QPSK) cho uplink và 64QAM (thay vì 16QAM như HSPA) cho downlink nên tốc độ cao hơn nhiều so với HSPA. HSPA+ R7 có tốc độ downlink 28Mbps (cao gấp đôi HSPA và hơn gấp đôi so với WCDMA), uplink 11Mbps; HSPA+ R8 có tốc độ downlink lên đến 42Mbps và uplink 11Mbps. Trong tương lai HSPA+ R9 có thể sẽ có tốc độ downlink lên đến 84Mbps và uplink lên đến 23Mbps hoặc cao hơn. (Xem hình 2, 3)

    GPRS và EDGE

    GPRS (General Package Radio Service – dịch vụ vô tuyến gói chung) là dịch vụ giá trị gia tăng của mạng GSM. GPRS dùng công nghệ chuyển mạch gói để truy cập các mạng số liệu bên ngoài (như LAN, Internet…) bằng giao thức IP (Internet Protocol) với tốc độ cao. Đây được coi là công nghệ mạng thế hệ 2,5 (2,5G) – một bước chuyển tiếp từ GSM lên 3G. Dịch vụ số liệu truyền thống của mạng GSM chỉ có tốc độ tối đa là 9,6Kbps, trong khi đó GPRS R98 và R99 có tốc độ tối đa lên đến 171,2Kbps (theo lý thuyết), cao hơn gần 20 lần so với dịch vụ số liệu của mạng GSM. Theo R97, GPRS có tốc độ 40Kbps (downlink) và 14Kbps (uplink). Với tốc độ khá cao này, thuê bao mạng GSM có thể tiếp cận thêm các dịch vụ giá trị gia tăng như: WAP, MMS (Multimedia Messaging Service – dịch vụ tin nhắn đa phương tiện), duyệt web, xem video, nghe nhạc… GPRS cho phép 8 thuê bao có thể sử dụng một kênh vô tuyến và một thuê bao có thể sử dụng đồng thời 8 kênh vô tuyến. Công nghệ này sử dụng phương thức điều chế GMSK.

    6.jpg

    EDGE (Enhanced Data GSM Environment) là công nghệ nâng cao tốc độ truyền dữ liệu trong mạng GSM. EDGE không phải là mạng 3G mà nó chỉ ở tầm 2,75G. EDGE, đôi khi còn gọi là EGPRS, là một công nghệ di động được nâng cấp từ GPRS cho phép truyền dữ liệu với tốc độ lên đến 384Kbps cho người dùng cố định hoặc di chuyển chậm và 144Kbps cho người dùng di chuyển tốc độ cao. Theo R98, EDGE có tốc độ downlink là 1,3Mbps và uplink là 653Kbps. Công nghệ này làm tiền đề cho các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động khi chuyển sang 3G dùng công nghệ HSPA – một bước chuyển tiếp GSM 2,5G lên 3G. Trong thời kỳ quá độ khi chuyển sang 3G, các Telco đã ứng dụng công nghệ EDGE để nâng cao tốc độ đường truyền cho các dịch vụ giá trị gia tăng của mình.

    EDGE cũng là dịch vụ giá trị gia tăng của mạng GSM nhưng có tốc độ cao hơn, thời gian trễ thấp hơn GPRS. EDGE hỗ trợ chuyển mạch gói EGPRS (Enhanced General Packet Radio Service) và chuyển mạch kênh ESCD (Enhanced Circuit Switched Data). Với tốc độ truyền dữ liệu cao, EDGE cho phép các nhà cung cấp triển khai các dịch vụ di động tiên tiến như tải video, clip nhạc, tin nhắn đa phương tiện, truy cập Internet, email… EDGE sử dụng phương thức điều chế, mã hóa và cơ chế thích ứng đuờng truyền mới để đạt được tốc độ truyền dữ liệu tối đa (gấp 3 lần tốc độ tối đa của GPRS). Trong khi GPRS sử dụng điều chế GMSK, thì EDGE sử dụng thêm điều chế 8-PSK. Do đó, để triển khai EDGE, các nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động cũng cần phải chuẩn bị các giải pháp nâng cấp/thay thế phù hợp.

    CDMA20001xEVDO cho mạng CDMA

    Nguyên thủy, 1xEV-DO là từ viết tắt của “1x Evolution-Data Only” (1x Cải tiến – Dành riêng cho dữ liệu). Sau đó, vì ý nghĩa tiêu cực có thể có khi đưa ra thị trường của chữ “Only” nên phần “DO” trong tên 1xEV-DO đã được đổi thành “Data Optimized” (Tối ưu hóa dữ liệu). Do đó, 1xEV-DO là viết tắt của “1x Evolution-Data Optimized” (1x Cải tiến – Tối ưu hóa dữ liệu), nhằm tạo ấn tượng tốt hơn về khả năng tối ưu truyền dữ liệu khi đưa ra thị trường . Đây là chuẩn truyền dữ liệu băng rộng vô tuyến cho các thiết bị không dây, cho phép tốc độ đạt đến 2,4Mbps (downlink) trên mạng CDMA (Code Division Multiple Access – đa truy nhập phân chia theo mã). Công nghệ này được tiêu chuẩn hóa bởi thỏa thuận 3GPP2 thành một phần của bộ các tiêu chuẩn CDMA2000. Mục tiêu chủ yếu của CDMA20001xEV-DO là cho phép người dùng thực hiện các ứng dụng đòi hỏi tốc độ cao, tương tác 2 chiều (downlink và uplink) thời gian thực như gửi/nhận email, hình ảnh, video, nhạc dung lượng lớn…

    WCDMA

    Những người theo trường phái WCDMA cho rằng công nghệ CDMA vượt trội hơn hẳn công nghệ GSM. CDMA là công nghệ của 3G. Để đi lên 3G, GSM cũng phải dựa vào CDMA (chính xác là Wideband Code Division Multiple Access (WCDMA) – Công nghệ đa truy cập phân chia theo mã băng rộng). Trong kỹ thuật trải phổ, thay vì dùng phương pháp FDMA hay TDMA như GSM, WCDMA dùng phương pháp trải phổ trực tiếp DS-CDMA (Direct Spread CDMA) để có tốc độ cao hơn và hỗ trợ nhiều người dùng hơn so với mạng 2G.

    7.jpg

    Ưu điểm của công nghệ này là hỗ trợ nhiều mức tốc độ khác nhau: 144Kbps khi di chuyển nhanh, 384Kbps khi đi bộ (ngoài trời) và cao nhất là 2Mbps khi không di chuyển (trong nhà). Với tốc độ cao, WCDMA có khả năng hỗ trợ các dịch vụ băng rộng như truy cập Internet tốc độ cao, xem phim, nghe nhạc với chất lượng không thua kém kết nối trong mạng có dây. WCDMA nằm trong dải tần 1920MHz -1980MHz, 2110MHz – 2170MHz… Công nghệ này hiện đang được triển khai trên mạng GSM sẵn có tại Mỹ và một số khu vực khác.

    Công nghệ 1x chủ yếu sử dụng thuật toán CDM (Code Division Multiplexing – chia kênh theo mã) trong khi EV-DO sử dụng kỹ thuật TDM (Time Division Multiplexing – chia kênh theo khe thời gian). Khi triển khai với mạng di động thoại hiện có, CDMA20001xEV-DO yêu cầu một khoảng băng thông 1,25MHz riêng. Lưu ý là CDMA20001xEV-DO có nhiều phiên bản. Trong đó, CDMA20001xEV-DO Rev.A (data và voice), vốn được phát triển từ phiên bản đầu tiên CDMA20001xEV-DO Rev.0 (chỉ data), đã được triển khai thực tế tại Nhật Bản và Hàn Quốc. Rev.A đưa ra cách thức thiết lập truyền dữ liệu gói tốc độ cao ở cả 2 chiều tải lên và xuống. Rev.B được cải tiến bằng cách kết hợp nhiều kênh 1,25MHz trên Rev. A nâng cao tốc độ, giảm trễ. Tốc độ tải xuống/lên của CDMA20001xEV-DO Rev.0 là 2,4576Mbps/157Kbps, Rev.A là 3,1Mbps/1,8Mbps và Rev.B là 9,3Mbps/5,4Mbps, nhanh hơn nhiều so với công nghệ GPRS và EDGE trên mạng GSM.

    Bước phát triển tiếp theo của công nghệ CDMA20001xEV-DO là công nghệ CDMA20001xEV-DV (1x Evolution Data and Voce). CDMA20001X EV-DV gồm các phiên bản tiếp theo của CDMA20001XEV-DO: Rev.C và Rev.D. Tốc độ tải xuống/lên của CDMA20001xEV-DV Rev.C là 2,4576Mbps/307Kbps và Rev.D là 3,1Mbps/1,8Mbps (giống Rev.A).

    Dựa trên nền tốc độ cao này, tốc độ đỉnh 2,4Mbps (Rev.0), nhà cung cấp có thể tạo ra rất nhiều dịch vụ cho khách hàng, chẳng hạn các ứng dụng di động trên xe hơi, xe tải, taxi, các dịch vụ thương mại, quảng cáo, trình diễn, hội nghị, trả lời thư… Và kỹ thuật giao tiếp vô tuyến của Rev.A giúp giảm độ trễ và có tốc độ cao hơn Rev.0 dành cho các dịch vụ VoIP và điện thoại có hình trên cùng một kênh sóng mang.

    Hiện nay, S-Fone đang cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ CDMA20001xEVDO (tốc độ tải về là 2,4Mbps, tải lên 380Kbps) hấp dẫn này: VOD/MOD (xem phim, truyền hình/ nghe nhạc trực tiếp trên điện thoại di động) và Mobile Internet (Internet di động – kết nối Internet cho máy tính bằng điện thoại hoà mạng S-Fone). Để sử dụng được dịch vụ này, bạn phải là thuê bao của S-Fone cùng với chiếc điện thoại di động hoặc USB modem hỗ trợ công nghệ CDMA20001xEVDO (tham khảo B0810_77).

    Được cấp giấy phép triển khai 3G, không có nghĩa là Telco chỉ có thể dùng các công nghệ 3G. Dựa trên hạ tầng, khả năng tài chính cũng như chiến lược kinh doanh riêng, các nhà mạng có thể chọn công nghệ 3G; 3,5G thậm chí 3,75G hay 4G.

    Sự khác nhau cơ bản giữa CDMA & GSM*

    GSM (Global System for Mobile communications – Hệ thống thông tin di động toàn cầu) và CDMA (Code Division Multiple Access – Đa truy cập phân kênh theo mã) là hai hệ thống thông tin di động tiên tiến được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Trong đó, mạng GSM chiếm hơn 74% số mạng trên toàn cầu. GSM là hệ thống thông tin số của châu Âu, sử dụng phương thức TDMA (Đa truy cập phân chia theo thời gian) với cấu trúc khe thời gian sao cho tạo được sự linh hoạt trong truyền thoại, số liệu và thông tin điều khiển. GSM số hóa và nén dữ liệu, sau đó chuyển lên kênh truyền dẫn bằng 2 luồng dữ liệu người dùng khác nhau, mỗi luồng chiếm trên một khe thời gian riêng. Băng thông lúc đầu chia thành những kênh sóng 200kHz và sau đó phân kênh dựa trên khe thời gian. Người dùng kênh sóng sẽ thay phiên nhau tuần tự, do vậy chỉ có một người sử dụng trên một kênh và chỉ có thể sử dụng được theo những giai đoạn rất ngắn.

    Trong khi đó, CDMA sử dụng phương thức đa truy cập phân chia theo mã, tức tất cả các thuê bao của mạng CDMA cùng đàm thoại trên cùng một dải băng rộng và được phân biệt nhau bằng mã ngẫu nhiên. Mỗi thuê bao sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một băng tần chung và chỉ được phục hồi ở thiết bị thuê bao (máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng.

    Công nghệ
    GSM Số lượng mạng GSM chiếm đa số, do đó dễ dàng cho người dùng khi chuyển vùng (roaming) khi di chuyển từ nước này đến nước khác. GSM vượt trội hơn CDMA vì nó sử dụng thẻ SIM, linh hoạt, bảo mật và an toàn cao. Người dùng có thể tháo thẻ SIM trên máy điện thoại này lắp vào máy khác một cách dễ dàng. Người dùng có nhiều tự do trong việc lựa chọn thiết bị đầu cuối.
    CDMA Với hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng nên CDMA cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5-20 lần so với GSM. Chất lượng cuộc gọi được cải tiến: CDMA cung cấp chất lượng âm thanh trung thực và rõ ràng hơn hệ thống di động sử dụng công nghệ khác. Tính bảo mật cao. Ít tốn pin, thời gian đàm thoại lâu và kích thước máy nhỏ hơn. Cung cấp nhiều dịch vụ cộng thêm và truyền dữ liệu với tốc độ cao. Bán kính phủ sóng của trạm gốc lớn hơn GSM.

    Thẻ nội dung : , , , , , , , , , ,

    Tính năng gửi ý kiến phản hồi đã bị khóa

    Website được xây dựng bởi Cty TNHH Thương mại và Dịch vụ viễn thông An Khánh

    Văn phòng giao dịch tại Hà Nội : Số 25, ngõ 178 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội.

    Chi nhánh Hồ Chí Minh : Số 433/10 Hai Bà Trưng, Phường 8, Quận 3, Hồ Chí Minh.

    Bản quyền nội dung thuộc về viettelonline.com. Tư liệu minh họa khác sở hữu bởi chủ sở hữu.